Nguyễn Văn Thành

21 Tháng Năm 20143:06 SA(Xem: 5851)

N G U Y Ễ N V Ă N T H À N H

 

Originaire du village de Bác Vọng, province de Thừa Thiên (Centre du Việt Nam), mais naquit à Gia Định (Sud Việt Nam). Quand les Tây Sơn se révoltèrent, il suivit la fortune du jeune prince Nguyễn Phúc Ánh, l’accompagna au Siam, et fit des prodiges de valeur à la tête de l’armée. A l’établissement de l’empire en 1802, il fut nommé Maréchal du groupe d’armées antérieur (Tiền Quân) et vice-roi des provinces du Nord. Peu après, il fut muté à la Capitale, nommé Maréchal du groupe d’armées du Centre (Trung Quân), et Directeur Généraldu Service de l’Histoire et de la Législation. Le Code Gia Long est son œuvre.

 

Ses services éminents n’ont pu lui éviter le triste sort des grands serviteurs de la monarchie, sacrifiés par la jalousie des collègues et la suspicion ombrageuse du souverain. Il fut acculé à se suicider par le poison.

 

En tant que généralissime de l’armée impériale, il a composé en 1802 l’oraison funèbre des officiers et soldats morts sur le champ d’honneur. C’est un magnifique chant d’épopée où la fierté du vainqueur de tant de batailles s’imprègne de tendresse touchante à l’adresse de ses obscurs compagnons d’armes morts avant de recevoir le fruit de la victoire.

 

Tế Trận Vong Tướng Sĩ.

 

Than Ôi ! Trời Đông Phố vận ra Sóc cảnh, trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay ; nước Lô hà chẩy xuống Lương giang, nghĩ mấy kẻ điêu linh những từ thuở nọ. Cho hay sinh là ký mà tử là qui, mới biết mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ.

 

Xót thay ! Tình dưới viên mao, phận trong giới trụ. Ba nghìn họp con em đất Bái, cung tên ngang dọc chí nam nhi ; hai trăm vây bờ cõi non Kỳ, cơm áo nặng dầy ơn cựu chủ.

 

Giấn thân cho nước, son sắt một lòng ; nối nghĩa cùng thầy, tuyết sương mấy độ.

 

Kẻ thời theo cơ đích chạy sang miền khách địa, hăm hở mài nanh giũa vuốt, chỉ non Tây thề chẳng đội trời chung ; kẻ thời đón việt mao trở lại chốn cô sơ, dập dìu vén cánh nương vây, trông cõi Bắc quyết thu về đất cũ.

 

Nằm gai nếm mật, chung nỗi ân ưu ; mở suối bắc cầu, riêng phần lao khổ.

 

Trước từng trải Xiêm-la, Cao miên về Gia Định mới dần ra Khánh Thuận, đã mấy buổi sơn phong hải lễ, trời Cao Quang soi tỏ tấm kiên trinh ; rồi lại từ Đồ Bàn, Nam, Ngãi lấy Phú Xuân mà thẳng tới Thăng Long, biết bao phen vũ pháo vân thê, đất Lũng, Thục lăn vào nơi hiểm cố.

 

Phận truy tùy gẫm lại cũng cơ duyên ; trường tranh đấu biết đâu là mệnh số.

 

Kẻ thời chen chân ngựa quyết giật cờ trong trận, xót lẽ gan vàng mà mệnh bạc, nắm lông hồng theo đạn lạc tên bay ; kẻ thời bắt mũi thuyền toan cướp giáo giữa giòng, thương thay phép trọng để thân khinh, phong da ngựa mặc bèo trôi sóng vỗ.

 

Hồn tráng sĩ biết đâu miền minh mạc, mịt mù gió lốc, thổi dấu tha hương ; mặt chinh phu khôn vẽ nét gian nan, lập lòe lửa trời, soi chừng cổ độ.

 

Ôi ! cùng lòng trung nghĩa, khác số đoản tu ; nửa cuộc công danh, chia phần kim cổ.

 

Đoái là tiếc xương đồng da sắt, thanh bảo kiếm đã trăm rèn mới có, nợ áo cơm phải trả đến hình hài ; những là khen dạ đá gan vàng, bóng bạch câu xem nửa phút như không, ơn dầy đội cũng cam trong phế phủ.

 

Phận dù không gác khói đài mây ; danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.

 

Thiết vì thủa theo cờ trước gió, thân chả quản màn sương đệm giá, những chờ xem cao thấp bước cân thường ; tiếc cho khi lỡ bước giữa dòng, kiếp đã về cõi suối làng mây, nào kịp thấy ít nhiều ơn vũ lộ.

 

Vâng thượng đức hồi loan tháng trước, đoàn ứng nghĩa dẫu Quảng, Thuận, Nghệ, Thanh cũng vậy, giội ân quang gieo khắp xuống Đèo Ngang ; mà những người từng thượng trận ngày xưa, dắp tấu công từ ngọ, vị, thân, dậu đến giờ, treo tính tự để nằm trong lá số.

 

Ngọn còi rúc nguyệt, nơi tẻ nơi vui ; dịp trống dồn hoa, chốn tươi chốn ủ. Đã biết rằng anh hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường oanh liệt, cái sinh không, cái tử cũng là không; nhưng tiếc cho tạo hóa khéo vô tình, ngàn năm một hội tao phùng, phận thủy có phận chung sao không có.

 

Bản chức nay, vâng việc biên phòng, chạnh niềm viễn thú. Dưới trướng nức mùi chung đỉnh, sực nhớ khi chén ruợu rót đầu ghềnh ; trong nhà rõ vẻ áo xiêm, chạnh nghĩ buổi tấm cừu vung trước gió. Bâng khuâng kẻ khuất với người còn, tưởng tượng thầy đâu thì tớ đó.

Nền phủ định tới đây còn xốc nổi, vụ lòng một lễ, chén ruợu thoi vàng ; chữ tương đồng ngẫm lại vốn đinh ninh, khắp mặt ba quân, cờ đào nón đỏ. Có cảm thông thì tới đó khuyên mời ; dù linh thính hãy nghe lời dặn dỗ.

 

Buổi chinh chiến hoặc là oan hay chẳng, cũng chớ nề kẻ trước người sau, hàng trên lớp dưới, khao thưởng rồi sẽ tấu biểu dương cho ; Hội thăng bình đừng có nghĩ rằng không, dù ai còn cha già mẹ yếu, vợ góa con côi, an tập hết, cũng ban tồn tuất đủ.

 

Hồn phách đâu đều ngày tháng Thuấn Nghiêu ; hài cốt đó cũng nước non Thang Vũ.

 

Cơ huyền diệu hoặc thâm trầm chưa rõ, thiêng thời về cố quận, để hương thơm lửa sáng, kiếp tái sinh lại nhận cửa tiền quân ; niềm tôn thân dù sinh tử chớ nề, linh thời hộ hoàng triều cho bể lặng sóng trong, duy vạn kỷ chửa dời ngôi bảo hộ.

 (Quốc Văn trích diễm, p.170)

 

Oraison funèbre des officiers et soldats morts sur le champ de bataille.

 

Hélas ! Du ciel du Sud jusqu’au pays du Nord, combien de dangers avons-nous affrontés pour avoir ce jour glorieux ! De la Rivière Claire jusqu’au Fleuve Rouge, combien d’entre nous ont péri au cours des batailles ! Mais nous avons toujours considéré la vie comme un séjour passager et la mort comme le retour à la demeure éternelle, et pourvu que nous laissions une réputation durable après la mort, il importe peu que notre vie ait été brève.

 

Dans la vie commune des camps, des liens solides sont formés entre nous qui portions l’armure. Au nombre de quelque milliers de premiers partisans, nous avons brandi l’arc et l’épée pour réaliser nos rêves héroïques ; bravant les périls, nous avons combattu pour payer notre dette de reconnaissance à notre prince.

 

Pour la patrie, vous vous êtes exposés bravement, le cœur ferme comme le fer et rouge comme le vermillon ; pour me suivre, vous avez enduré mille fois la neige et le brouillard.

 

Certains d’entre vous ont accompagné le Prince à l’étranger1 où, aiguisant leurs canines et leurs griffes 2, ils ont juré de ne pas vivre sous le même ciel que les rebelles de la montagne de l’Ouest 3. D’autres ont accueilli le Prince à son retour, agitant leurs ailes et leurs écailles 4 dans l’espoir de replacer sous Sa loi le pays du Nord.

 

Nous couchant sur des lits d’épines et goûtant chaque jour du fiel 5,nous avons partagé ensemble toutes les privations. Pour ouvrir la route à travers les ruisseaux, vous avez construit des ponts, vous réservant toutes les peines.

Du Siam et du Cambodge, nous sommes rentrés à Gia Định et avons avancé jusqu’aux provinces de Khánh Hòa et Bình Thuận ; la mort nous menaçait parfois, mais toujours un coup de vent subit ou un courant d’eau

----

1 Chassé par les rebelles Tây Sơn, le prince nguyễn Phúc Ánh a du s’expatrier pour quelque temps au Siam.

2 Les guerriers sont comparés a des fauves, des éperviers et des dragons.

3 Les rebelles Tây Sơn.

4 Les guerriers sont comparés à des fauves, des éperviers et des dragons.

5 S’infliger des mortifications pour ne pas oublier la vengeance.

douce nous a sauvé 1. Puis, partant de Đồ Bàn, de Quảng Nam et de Quảng

Ngãi, nous nous sommes emparés de Phú Xuân et de Thăng Long ; il nous a fallu nous lancer à l’assaut sous la pluie des projectiles, sur des échelles de nuages 2 pour prendre ces citadelles.

Les circonstances ont lié votre destin au mien, mais sur le champ de bataille, nul ne pouvait prévoir son sort.

 

Certains d’entre vous se sont faufilés parmi les jambes des chevaux pour s’emparer des drapeaux de l’ennemi ; hélas, leur courage était d’or mais leur destin était d’argent 3, et leur vie, telle une plume d’oie sauvage, s’est envolée à la rencontre d’une flèche ou d’une balle égarée. D’autres ont arrêté les barques de l’adversaire au milieu du fleuve pour s’emparer de ses armes ; hélas, ils ont, pour accomplir leur devoir, tenu leur vie comme négligeable, et leurs cadavres enveloppés dans la peau des cheveaux 4 ont été précipités dans le courant, voguant à la dérive comme des lentilles d’eau.

 

Les âmes de ces héros errent dans les déserts immense où souffle un vent étranger à leur pays natal ; les visages de ces guerriers exposent leurs traits tourmentés dans un débarcadère ancien où luisent sinistrement des feux follets.

 

Hélas ! nous étions animés d’un même dévouement à la patrie, mais la vie est longue à certains et brève à d’autres. Et tandis que nous nous acheminions sur la route des honneurs, les uns restent en vie tandis que d’autres sont passés dans un autre monde.

Combien sont-ils à plaindre, ceux qui se sont exercés à acquérir des os de bronze et une peau de fer pour forger une épée précieuse, et qui ont dû payer de leur vie leur dette de reconnaissance envers le Prince ! Mais louables

-----

1 L’Histoire raconte que le prince Nguyễn Phúc Ánh, poursuivi en mer par les Tây Sơn, fut sauvé par un ouragan opportun qui dispersa la flotte ennemie. Une autre fois, après une fuite de plusieurs jours, ses provisions d’eau s’epuisèrent. Il adressa une prière au Ciel, et un courant d’eau douce apparut en pleine mer.

2 Echelles hautes.

3 Jeu de mots, le mot bạc en vietnamien signifiant à la fois argent et ingrat.

4 Allusion à une parole du célèbre général chinois Mã Viện : “Plutôt que de s’éteindre dans un lit de malae, le héros doit mourir sur le champ de bataille, enveloppé dans une peau de cheval.”

étaient leurs entrailles de pierre et leur foie d’or 1 qui considéraient la vie comme un cheval blanc galopant devant une fenêtre 2 pour conserver au cœur une fidélité éternelle.

Bien que leurs noms ne soient pas admis à figurer dans l’étage de fumée ou au pavillon de nuages 3, leur réputation est déjà célèbre dans les champs et les forêts.

 

Ils n’ambitionnenaient, quand ils suivaient les drapeaux flottant au vent, sans se soucier de coucher à la belle étoile, avec pour moustiquaire un rideau de brume et pour matelas un lit de glace, que de voir leur noms inscrits sur ces drapeaux. Mais quand ils moururent, l’âme revenue au royaume des Sources et des Nuages, ils n’avaient pas reçu les bienfaits de la pluie et de la rosée 4.

 

Sur les ordres de Sa Majesté l’Empereur rentré à la Capitale le mois dernier, tous ceux qui ont répondu à son auguste appel, qu’ils fussent originaires des provinces Quảng, Thuận, Nghệ ou Thanh, recevront une récompense imprériale se déversant sur toute la Chaîne Annamitique. Et tous ceux qui ont combattu depuis les années Ngọ, Vị, Thân ,Dậu 5 jusqu’à maintenant auront leurs états de services successivement examinés.

 

La sirène des camps retentit au clair de lune, amenant ici la joie et là la tristesse ; le tambour des fêtes hâte l’éclosion des fleurs, ici fraîches et là fanées. Je sais bien que vous étiez des héros, et qu’en accomplissant des exploits sublimes dans cent batailles, vous considériez la vie et la mort comme des entités insignifiantes. Mais je ne puis m’empêcher de déplorer l’indifférence du Créateur qui, dans cette aventure unique en mille ans, vous a donné un bon départ et une fin malheureuse.

 

 Chargé par ordre impérial de défendre maintenant cette marche de

-------

1 Courage inébranlabre

2 Allusion à un mot célèbre qui compare la durée briève de la vie humaine à l’intervalle de temps que met un cheval à galoper devant une fenêtre.

3 Palais où sont exposés les portraits des compagnons d’armes de l’Empereur.

4 Récompenses de l’Empereur.

 5 Années 1798 à 1801.

l’empire, je me prends à penser au temps où nous étions sur le front. Sous ma tente chargée de victuailles, je me rappelle le verre d’alcool que nous buvions devant les chutes d’eau.

 

 Dans mon palais rempli de vêtements somptueux, je me souviens du manteau de fourrure que nous déployions devant le vent. Et je pense douloureusement à vous les disparus, qui me suivaient partout en fidèles compagnons.

 

A présent que la paix vient d’être établie, je fais organiser un service funèbre à votre mémoire, avec des tasses d’alcool et des barres d’or votif, au milieu de vos frères d’armes dont vous étiez les pairs. Regardez : le camp est couvert de casques roses et d’oriflammes écarlates. Venez donc participer à nos libations, et veuillez écouter mes paroles.

 

Au cours de la guerre, que vous fussiez morts justement ou injustement 1, que vous ayez servi depuis longtemps ou depuis peu, dans les hauts ou les bas rangs, j’exposeserai vos états de services à Sa Majesté l’Empereur pour qu’Elle vous récompensense tous. Dans la paix vous ne serez pas oubliés, et vos vieux parents, vos veuves, vos orphelins recevront des pensions.

 

Où qu’ils soient, vos mânes et vos ossements reposent dans la terre bénie de l’Empereur.

 

Les desseins du Ciel sont impénétrables, mais vos esprits sacrés feront bien de retourner au village natal pour jouir de l’encens parfumé et du feu clair que les vôtres allument à votre autel. Et dans votre future existence, tâchez de revenir servir sous mes ordres, dans le groupe d’armées antérieur. N’oubliez pas aussi que malgré votre mort, vous devez la fidélité au Prince, et que vos esprits sacrés doivent aider l’Impériale Dynastie à maintenir les océans tranquilles et les fleuves limpides 2, et jusqu’à dix mille siècles consolider Son Auguste Trône.



 

 

 

1 Que votre mort ait été prévue par le destin, ou fut accidentelle.

2 Maintenir la paix dans l’empire.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn