Phần một: Đại cương về kinh dịch

20 Tháng Năm 201411:08 CH(Xem: 18469)

I- Nguồn gốc Kinh Dịch

Theo cổ truyền, Dịch kinh do thánh Phục Hy ở đời Thượng cổ nghĩ ra, và giải thích rất sơ lược mỗi quẻ bằng vài chữ gọi là Soán từ. Rồi đến thời Trung Cổ có các thánh Văn Vương, Chu công và Khổng tử giải thích thêm cho rõ nghĩa bằng Soán truyện, Đại Tượng truyện cho mỗi quẻ, và bằng hào từ, tiểu tượng truyện cho mỗi hào.

Quan sát thiên văn, địa lý và nhân loại, thánh hiền nhận thấy rằng tất cả mọi sự, mọi vật trong vũ trụ đều tuân theo một định luật chung là Dịch, biến chuyển không ngừng. Đây không phải chỉ là một nhận xét phiếm diện về hiện tượng bên ngoài, mà còn là một tin tưởng sâu sắc về bản thể nội tại. Nói một cách khác, tư tưởng Dịch không phải chỉ nhận xét rằng ở đời không có sự gì giữ y nguyên như thế mãi, nóng mãi rồi cũng phải lạnh, thịnh mãi rồi cũng phải suy, trị mãi rồi cũng phải có lúc loạn, v . v . Nó cao hơn sự hiểu biết thông thường đó về hai điểm:

1. Nó quả quyết rằng Dịch là nguyên lý của Vũ trụ, là nguyên nhân sinh tạo ra Vũ trụ, là sức mạnh giữ cho Vũ trụ được tiếp tục sinh tồn. Không có Dịch thì không có Vũ trụ, không có Dịch thì bộ máy Vũ trụ sẽ không chạy được nữa và sẽ tan vào hư vô. Nói cho rõ hơn, nguyên lý Dịch tức là ý niệm Thượng Đế trong Thiên Chúa giáo, hoặc ý niệm Chơn Như, Phật tính trong Phật giáo.

2. Và như vậy, hữu ý hay vô tình, nguyên lý Dịch chi phối cả thế giới cực đại và thế giới cực tiểu, bao hàm cả những khám phá của Thiên văn học và Nguyên tử học. Dịch thể hiện trong sự chuyển vận của các tinh tú trong bầu trời bao la. Dịch cũng thể hiện trong sự chuyển vận của các hạt điện tử chung quanh các hạt dương tử trong nguyên tử li ti.

Như vậy, ta thấy rằng trên căn bản, Dịch lý rất khoa học, chứ không huyền hoặc chút nào. Tuy nó không dựa vào sự thí nghiệm (experimentation) như khoa học vật lý hóa, nhưng nó dựa vào sự quan sát (observation) rất thực tế và sâu sắc các hiện tượng thiên nhiên và nhân sự như Thiên Văn học và Xã hội học, và một lý luận vững chắc không kém gì lý luận toán pháp, miễn là ta có đủ khả năng nhìn thấy những liên hệ tế nhị giữa các sức mạnh âm dương hoạt động trong vũ trụ, từ những thiên hà đến một hạt bụi, từ những hiện tượng vật lý đến những hiện tượng tâm lý, xã hội. Những liên hệ đó không rõ ràng bằng sự liên hệ giữa ẩn số và biến số trong một phương trình toán pháp, và nhất là chúng động (dynamique) chứ không tĩnh (statique), ta không thể gò ép chúng vào một phương trình tĩnh, mà có lẽ phải diễn tả chúng bằng những matrices.

II - Tượng trưng những yếu tố vô hình bằng những dấu hiệu hữu hình.

A - Dịch lý là cái vô hình, nên phải dùng những cái hữu hình để diễn tả nó. Theo Dịch học trong vũ trụ (thiên nhiên cũng như nhân sự), có hai nguyên tố đối nghịch nhau, gọi là Dương và Âm.

1. Trước tiên, Dịch kinh dùng hai vạch ngang để hình dung chúng. Vạch liền là dương __ , vạch đứt là âm _ _ . Dương tượng trưng cho nam, cương, thiện, đại, chính, thành, thực, quân tử, phú, quý. Âm tượng trưng cho nữ, nhu, ác, tiểu, tà, ngụy, hư, tiểu nhân, bần tiện. Đại khái là thế, nhưng không phải Dương bao giờ cũng tốt, Âm bao giờ cũng xấu đâu. Còn tùy ở thời đại, hoàn cảnh, Dương có thể vì cương mà trở nên xấu, Âm có thể nhờ nhu mà trở nên tốt.

2. Dịch kinh cũng còn dùng chữ số để mệnh danh âm dương:

Dương, vạch liền, được gọi trong các hào là Cửu, vì cửu là số thành của Dương (gồm các số lẻ 5, 7, 9 đi lên). Ví dụ Sơ Cửu là hào dương ở dưới cùng, Cửu Nhị là hào dương thứ hai kể từ dưới, Thượng Cửu là hào dương ở trên cùng.

Âm, vạch đứt, được gọi trong các hào là Lục, vì lục là số thành của âm (gồm các số chẵn 8, 6 đi xuống). Ví dụ Sơ Lục là hào âm ở dưới cùng, Lục Tam là hào âm thứ ba kể từ dưới, Thượng lục là hào âm ở trên cùng.

Còn số 1 tượng trưng cho Trời, số 2 tượng trưng cho Đất, số 3 tượng trưng cho nguyên lý động của trời, số 4 tượng trưng cho nguyên lý động của đất.

B - Nhưng chỉ dùng có hai vạch âm dương thì làm sao diễn tả nổi vạn sự vạn lý? Thánh Phục Hy bèn chế ra 8 quẻ, mỗi quẻ gồm có ba vạch (để tóm thâu tam tài: thiên, nhân, địa). Mỗi trong 8 quẻ đó có thể có ba vạch hoặc toàn dương, hoặc toàn âm, hoặc vừa âm vừa dương thay đổi vị trí. Và đây là 8 quẻ ba hào (trigrams) căn bản đó: (xin xem bản vẽ ở trang sau)

Xin giải thích qua về tính âm dương của các quẻ ba hào:

- Nếu cả ba hào giống nhau, thì là âm (Khôn) hoặc dương (Càn)

- Nếu 1 âm 2 dương, thì quẻ đó là âm (Đoài, Li, Tốn)

- Nếu 1 dương 2 âm, thì quẻ đó là dương (Chấn, Khảm, Cấn)

C - 1) Nhưng số 8 quẻ vẫn còn quá ít để diễn tả mọi sự vật, và nhất là chúng mới chỉ diễn tả cái tính chất bất dịch hoặc đồng nhất (identity), chưa diễn tả được tính chất giao dịch và biến dịch khi cái nọ đụng chạm với cái kia. Do đó mà thánh Phục Hy mới biến 8 quẻ ba hào (trigrams) thành 64 quẻ sáu hào (hexagrams) bằng cách lần lượt đặt mỗi quẻ ba hào lên trên nó và trên 7 quẻ kia, 8 lần 8 thành 64 quẻ, tượng trưng được hết những hiện tượng thiên nhiên và nhân sự quan trọng nhất.

Tên

Càn

Đoài

Li

Chấn

Tốn

Khảm

Cấn

Khôn

Hình quẻ

____ ____

____

__ __

_____

_____

_____

__ __

_____

__ __

__ __

_____

_____

_____

__ __

__ __

_____

__ __

________

__ __

__ __

__ __

__ __

Âm

hoặc

Dương

tính

+

_

_

+

_

+

+

_

Hiện

tượng

tiêu

biểu

Thiên

(trời)

Trạch

(nước

im

lìm)

Hoả

(lửa)

Lôi

(sấm)

Phong

(gió)

Thuỷ

(nước

chảy)

Sơn

(núi)

Địa

(đất)

Đức

tính

Nghị

lực

cương

quyết

Hoà

duyệt

Đẹp,

văn

minh

Chấn

động,

thúc

đẩy

Uyển

chuyển,

khiêm

tốn

Mạo

hiểm,

khó

khăn

Dừng

lại,

kìm

hãm

Nhu

thuận,

nhẫn

nại

Như vậy, mỗi quẻ gồm có 6 vạch, gọi là hào. Quẻ gồm 3 vạch trên gọi là thượng quái hoặc ngoại quái, quẻ dưới gọi là hạ quái hoặc nội quái.

2) Thêm nữa, ta sẽ thấy rằng mỗi quẻ 6 hào được đặt tên theo hình dáng của nó giống đồ vật gì, hoặc theo đức tính chính yếu của nó. Vì dụ :quẻ gồm 6 vạch đều dương gọi là Bát Thuần Càn; quẻ có thượng quái là Cấn và hạ quái là Khảm thì gọi là Sơn Thủy Mông; quẻ có thượng quái là Càn, hạ quái là Khảm thì gọi là Thiên Thủy Tụng.

3) Với sự xoay vần của 8 quẻ ba hào biến thành 64 quẻ sáu hào, chúng tôi liên tưởng đến bảng chu kỳ (periodic table) của Mendelieev, trong đó tất cả các nguyên tử có trong vũ trụ (gồm có 92 và isotropes của chúng) được xếp thành 10 cột dọc, những nguyên tử cùng một cột có tính chất tương tự như sodium và potassium, và số protons cùng là số lẻ hoặc số chẵn, cứ sau một cột có số protons lẻ lại có một cột có số protons chẵn, và ngược lại cũng vậy.

Nói tóm lại, các quẻ trong kinh Dịch và bảng chu kỳ của Mendelieev đều căn cứ trên nguyên lý sau đây: Mọi sự mọi vật dù biến chuyển thiên hình vạn trạng hình như vô trật tự, nhưng vẫn theo những qui củ hẳn hoi, và biến cho hết một chu kỳ, rồi lại quay về một chu kỳ sau. Trong bảng của Mendelieev, các nguyên tử có số protons thêm dần từ cột 1 đến cột 10 trên một dòng ngang. Rồi lại sang dòng ngang tiếp sau, lại đi từ cột 1 đến cột 10. Như vậy bảng Mendelieev gồm có 10 dòng ngang và 10 cột dọc để ghi số protons, định vị trí và cắt nghĩa hoặc tiên đoán tính chất của tất cả các nguyên tử có trong vũ trụ. Còn các quẻ của kinh Dịch thì tám tám biến thành 64, để diễn tả tất cả các trạng thái thiên nhiên và nhân sự. Số các quẻ theo thứ tự 1, 2, 3, 4 . . . mà vạch ra các hào, sẽ nói rõ ở đoạn sau.

III – Xếp đặt thứ tự các quẻ

A -Việc lập bảng các quẻ rất dễ, xin vẽ trước rồi giải thích sau :

- Lập một bảng 8 hàng ngang và 8 cột dọc, được 64 ô ghi thứ tự từ trái sang phải, và lần lượt từ trên xuống dưới, ở góc trên và bên trái của mỗi ô.

- Mỗi quẻ sáu hào gồm 2 quẻ ba hào, gọi là thượng quái và hạ quái.

- Thượng quái được viết lên phần trên mỗi ô. Cột I viết quẻ Khôn từ trên đến dưới cho cả 8 ô trong cột thứ nhất. Cột 2 viết quẻ Cấn cũng vậy. Cả 8 cột theo thứ tự Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Li, Đoài, Càn (thứ tự này sẽ được giải thích trong một đoạn sau).

1

Khôn

Khôn

II

2

Cấn

Khôn

XXIII

3

Khảm

Khôn

VIII

4

Tốn

Khôn

XX

5

Chấn

Khôn

XVI

6

Li

Khôn

XXXV

7

Đoài

Khôn

XLV

8

Càn

Khôn

XII

9

Khôn

Cấn

XV

10

Cấn

Cấn

LII

11

Khảm

Cấn

XIX

12

Tốn

Cấn

LIII

13

Chấn

Cấn

LXII

14

Li

Cấn

LVI

15

Đoài

Cấn

XXXI

16

Càn

Cấn

XXXIII

17

Khôn

Khảm

VII

18

Cấn

Khảm

IV

19

Khảm

Khảm

XXIX

20

Tốn

Khảm

LIX

21

Chấn

Khảm

XL

22

Li

Khảm

LXIV

23

Đoài

Khảm

XLVII

24

Càn

Khảm

VI

25

Khôn

Tốn

XLVI

26

Cấn

Tốn

XVIII

27

Khảm

Tốn

XLVIII

28

Tốn

Tốn

LVII

29

Chấn

Tốn

XXXII

30

Li

Tốn

L

31

Đoài

Tốn

XXVIII

32

Càn

Tốn

XLIV

33

Khôn

Chấn

XXIV

34

Cấn

Chấn

XXVII

35

Khảm

Chấn

III

36

Tốn

Chấn

XLII

37

Chấn

Chấn

LI

38

Li

Chấn

XXI

39

Đoài

Chấn

XVII

40

Càn

Chấn

XXV

41

Khôn

Li

XXXVI

42

Cấn

Li

XXII

43

Khảm

Li

LXIII

44

Tốn

Li

XXXVII

45

Chấn

Li

LV

46

Li

Li

XXX

47

Đoài

Li

IL

48

Càn

Li

XIII

49

Khôn

Đoài

XIX

50

Cấn

Đoài

XLI

51

Khảm

Đoài

LX

52

Tốn

Đoài

LXI

53

Chấn

Đoài

LIV

54

Li

Đoài

XXXVIII

55

Đoài

Đoài

LVIII

56

Càn

Đoài

X

57

Khôn

Càn

XI

58

Cấn

Càn

XXVI

59

Khảm

Càn

V

60

Tốn

Càn

IX

61

Chấn

Càn

XXXIV

62

Li

Càn

XIV

63

Đoài

Càn

XLIII

64

Càn

Càn

I

- Hạ quái được viết ở phần dưới của mỗi ô. Hàng 1 viết quẻ Khôn từ trái sang phải cho 8 ô trong hàng đó. Hàng 2 viết quẻ Khôn từ trái sang phải cho cả 8 ô trong hàng đó. Hàng 2 viết quẻ Cấn cũng vậy. Và cả 8 hàng cũng theo thứ tự: Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Li, Đoài, Càn.

- Số thứ tự được ghi trên đây là số thứ tự nguyên thủy. Nhưng về sau người ta xử dụng một thứ tự khác theo những lý được trình bầy trong Tự quái ở mỗi đầu quẻ. Bảng thứ tự mới này được ghi trên đây bằng số La Mã ở góc dưới và bên phải của mỗi ô:

Quẻ Bát Thuần Càn (Càn-Càn), trước là 64 bây giờ là I

Quẻ Bát Thuần Khôn (Khôn-Khôn), trước là I, bây giờ là II

Quẻ Thuỷ Lôi Truân (Khảm-Chấn), trước là 35, bây giờ là III

Quẻ Sơn Thủy Mông (Cấn-Khảm), trước là 18, bây giờ là IV, v. v.

B - Có một nhận xét rất kỳ lạ, là trước đây 4, 5, nghìn năm để lập 64 quẻ kinh Dịch, cổ nhân đã xử dụng (một cách vô tình) lối tính lấy số 2 làm căn bản (binary system) thay vì lối tính lấy số 10 làm căn bản (decimal system). Mà binary system mãi đến năm 1679 toán học gia Leibniz mới phát minh, và bây giờ thì được xử dụng trong các máy toán điện tử.

1) Trước hết, xin trình bầy qua binary system. Trong hệ thống này, chỉ xử dụng có hai dấu hiệu là 0 và 1, và mỗi dấu hiệu 1 đi trước dấu hiệu 1 đi sau có giá trị gấp đôi chứ không phải gấp 10 như trong decimal system.

Ví dụ:

Decimal system Binary system

0 0

1 1

2 10 (2+0)

3 11 (2+I)

4 100 (4+0+0)

5 101 (4+0+I)

6 110 (4+2+0)

7 111 (4+2+I)

8 1000 (8+0+0+0)

2) Bây giờ xét các quẻ ở trang trước, thì ta thấy các hào của mỗi quẻ được tính theo bianary system, nếu ta đặt hai ước lệ sau đây:

Tính 0 đến 63 thay vì từ 1 đến 64, nghĩa là mỗi số trên bảng đó phải trừ đi 1;

Hào âm được gọi là 0, và hào dương được gọi là 1.

Vài ví dụ:

Quẻ Địa Thiên Thái (Khôn-Càn), trên bảng ghi số 57, trừ đi 1 còn 56. Ta đem chia số đó với 2, rồi ghi số còn lại để vào Thượng. Rồi tiếp tục như thế cho đến khi số đem chia dividende) là 0

56 2

0 28 2

0 14 2

0 7 2

1 3 2

1 1 2

1 0

Ta được quẻ 000111, tức là quẻ : Địa Thiên Thái

Địa Thiên Thái

Quẻ Địa Lôi Phục (Khôn-Chấn) trên bảng ghi số 33, trừ đi 1 còn 32

32 2

0 16 2

0 8 2

0 4 2

0 2 2

0 1

1 0

Ta được 000001 tức là quẻ : Địa Lôi Phục

Địa Lôi Phục

Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá (Chấn - Cấn) số 13, trừ đi 1 còn 12

12 2

0 6 2

0 3 2

1 1 2

1 0

Ta mới được 4 hào trên còn thiếu hai hào dưới. Vì số đem chia cuối cùng đã là 0, thì hai hào thiếu cũng là 0. Vậy ta có 001100 tức là quẻ : Lôi Sơn Tiểu Quá

Lôi Sơn Tiểu Quá

_

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (Li-Khảm) số 22 trừ đi 1 còn 21

21 2

1 10 2

0 5 2

1 2 2

0 1 2

1 0

Ta mới được 5 hào trên còn thiếu một hào dưới cùng. Vì số đem chia cuối cùng là 0, thì hào thiếu tất nhiên cũng là 0. Vậy ta có 101010 tức là quẻ: Hỏa Thủy Vị Tế

Hỏa Thủy Vị Tế

C - Trong đoạn A, chúng tôi đã theo thứ tự 8 quẻ căn bản 3 hào: Khôn 1, Cấn 2, Khảm 3, Tốn 4, Chấn 5, Li 6, Đoài 7, Càn 8. để lập bảng thứ tự 64 quẻ sáu hào. Vậy phải đặt vấn đề: tại sao lại theo thứ tự đó cho 8 quẻ căn bản 3 hào?

Khởi thủy người Trung Hoa lập bát quái đồ, họ vẽ 4 phương 8 hướng như sau: (Xem hình vẽ ở trang sau).

Sở dĩ họ đặt quẻ Càn 1 ở phương Nam vì giờ trưa thì mặt trời ở phương nam. Và đã đặt Nam ở trên, thì tự nhiên các phương hướng và các quẻ tượng trưng chúng theo thứ tự Càn (Nam 1), Đoài (Đông Nam 2), Li (Đông 3), Chấn (Đông Bắc 4). Tới đây, để đi tới Phương Bắc 8 tượng trưng cho quẻ Khôn, họ không đi ngược chiều với kim đồng hồ nữa, mà đi thuận chiều: Tốn (Tây Nam 5), Khảm (Tây 6), Cấn (Tây Bắc 7), và Khôn (Bắc 8).

bát quái đồ

Sau đó, họ lập bản đồ theo cách thường dùng ngày nay, tức là phương Bắc ở trên, phương Nam ở dưới, Đông ở bên phải và Tây ở bên trái. Do đó mà ta có bảng thứ tự mới sau đây: Khôn 1, Cấn 2, Khảm 3, Tốn 4, Chấn 5, Li 6, Đoài 7, Càn 8.

bát quái đồ mới

D - Trong đoạn C, ta mới giải quyết vấn đề thứ tự 8 quẻ ba hào.

Bây giờ tới vấn đề thứ tự 64 quẻ sáu hào. Trên đây ở đoạn A, chúng tôi đã nói rằng thứ tự này được cắt nghĩa trong Tự quái của mỗi quẻ. Những lý lẽ trình bầy trong Tự quái, chúng tôi nhận thấy đôi khi không có giá trị thuyết phục hoàn toàn, có lẽ chỉ vì chúng tôi người phàm mắt thịt, không có trực giác màu nhiệm như thánh nhân nên không thấy rõ. Chúng tôi chỉ có thể thấy những nét rõ rệt sau đây:

1) Những cặp quẻ Bát Thuần, nghĩa là thượng quái và hạ quái như nhau, đi liền với nhau để giúp đỡ lẫn nhau hoặc để bổ khuyết cho nhau:

Bát Thuần Càn đi liền với Bát Thuần Khôn, vì trời đất là nguồn gốc của muôn vật : I, II.

Bát Thuần Khảm đi liền với Bát Thuần Li, vì nước lửa, tức văn thành võ đức, cần cả hai để trị quốc : XXIX, XXX.

Bát Thuần Chấn đi liền với Bát Thuần Cấn, vì động và tĩnh phải tùy thời thay đổi nhau : LI, LII.

Bát Thuần Tốn đi liền với Bát Thuần Đoài, tức là người trên có đức khiêm thì người dưới tuân theo vui vẻ : LVII, LVI.

2) Những cặp có thượng quái hạ quái trao đổi vị trí, cũng đi liền với nhau để đối chọi nhau, chứng tỏ dịch lý Cùng tắc biến:

Thủy Thiên Nhu đi với Thiên Thủy Tụng: V, VI.

Địa ThủySư đi với Thủy Địa Tỷ: VII, VIII.

Địa Thiên Thái đi với Thiên Địa Bĩ: XI, XII.

Thiên Hoả Đồng Nhân đi với Hỏa Thiên Đại Hữu: XIII, XIV.

Hỏa Địa Tấn đi với Địa Hỏa Minh Di: XXXV, XXXVI.

Thủy Hỏa Ký Tế đi với Hỏa Thủy Vị Tế: LXIII, LXIV.

3) Những quẻ có tính cách giống nhau như Tốn Đoài (khiêm tốn, vui vẻ) có thể thay thế nhau khi đi với một quẻ ba hào khác:

Phong Thiên Tiểu Súc đi với Thiên Trạch Lý: IV, X.

Địa Trạch Lâm đi với Phong Địa Quán: XIX, XX.

Phong Hỏa Gia Nhân đi với Hỏa Trạch Khuê: XXXVII, XXXVIII.

Trạch Thiên Quải đi với Thiên Phong Cấu: XLIII, XLIV.

Trạch Địa Tụy đi với Địa Phong Thăng: XLV, XLVI.

Trạch Thủy Tốn đi với Thủy Phong Tỉnh: XLVII, XLVIII.

Trạch Hỏa

Cách đi với Hỏa Phong Đỉnh: IL, L.

Phong Thủy Hoán đi với Thủy Thạch Tiết: LIX, LX.

4) Những quẻ có tính cách đối nhau như Chấn-Cấn (động-tĩnh) thay thế nhau khi đi với một quẻ khác để tỏ rõ tính chất tương phản:

Thủy Lôi Truân và Sơn Thủy Mông: III, IV {đi với

Thủy Sơn Kiển và Lôi Thủy Giản: XXXIX, XL { Khảm

Địa Sơn Khiêm và Lôi Địa Dư: XV, XVI. { đi với

Sơn Địa Bác và Địa Lôi Phục: XXIII, XXIV. { Khôn

Hỏa Lôi Phệ Hạp và Sơn Hoả Bí:XXI,XXI { đi với

Lôi Hỏa Phong và Hỏa Sơn Lữ: LV, LVI { Li

Thiên Lôi Vọng và Thiên Sơn Đại Súc:XXV, XXVI.{đi với

Lôi Thiên Đại Tráng: XXXIII,XXXIV { Càn

5) Một cặp tương tự (Tốn-Đoài) thay thế nhau để đi với một cặp tương phản (Chấn-Cấn):

Trạch Lôi Tùy và Sơn Phong Cổ:XVII, XVIII {Đoài Cấn trên

Sơn Lôi Di và Trạch Phong Đại Quá:XXVII, XXVIII{ Chấn Tốn

Trạch Sơn Hàm và Lôi Phong Hằng: XXXI, XXXII { Đoài Cấn thay

{đổi nhau và

Sơn Trạch Tồn và Phong Lôi ích : XLL, XLII {Chấn Tốn cũng

{thay đổi nhau.

Phong Sơn Tiệm và Lôi Trạch Qui Muội: LIII , LIV { Tốn Chấn

{ trên

Phong Trạch Trung Thu và Lôi Sơn Tiểu Quá:LXI,LXII{ Cấn Đoài

Như vậy ta đã liên lạc với nhau 64 quẻ làm 32 cặp, và những cặp này có thể xếp vào 5 loại:

Loại 1 gồm 4 cặp :

- 2 - 6 -

- 3 - 8 -

- 4 - 8 -

- 5 - 6 -

Tuy nhiên, ta vẫn chưa tìm được một sợi dây hữu lý để liên lạc liên từ 32 cặp đó từ cặp 1, 2 đến cặp 63, 64. Đành phải nhận lời giải thích của Tự quái mà thôi.

IV – Cách bói các quẻ

A - Căn Bản Của Sự Tin Vào Bói Dịch

Bói Dịch cũng như bói Thái ất, bói mai rùa, chân gà, bài Tây, bã café v.v. đặt ra cho chúng ta một vấn đề tiên quyết, là việc bói có một căn bản hữu lý nào không, hay chỉ là mê tín dị đoan ? Lẽ tự nhiên, chúng ta không thể làm một cuộc thí nghiệm khoa học nào để chứng minh rằng nó là đúng. Chúng ta chỉ có thể suy luận đại khái như sau:

1. Óc ta là một bộ máy phát điện và thu điện thô sơ, chỉ khi nào bị xúc động hoặc chú ý mãnh liệt mới mong nhận được những luồng điện của vũ trụ siêu hình, có tần số đặc biệt. Một thí dụ thô sơ: mắt và tai ta không thể thu được những luồng điện vô tuyến, phải nhờ máy vô tuyến chuyển những luồng điện đó thành những rung động có tần số hợp với mắt và tai ta, thì ta mới thấy và nghe được. Vậy chúng ta có quyền nghĩ rằng những luồng sóng điện của vũ trụ siêu hình có tần số đặc biệt, khác tần số của những luồng sóng vô tuyến, nên cả óc ta và máy vô tuyến điện cũng không thể thu nhận được. Óc chúng ta chỉ có thể thu nhận được chúng trong vài trường hợp đặc biệt như khi bị xúc động mạnh, hoặc tập trung tư tưởng vào một vấn đề.

2. Trên đây mới chỉ tạm giải được một nửa vấn đề là: Sự thông cảm với vũ trụ siêu hình không phải là một sự bất khả tuyệt đối. Còn một nửa vấn đề là : Giả thử ta có thể thông cảm với vũ trụ lúc ta đương bói thì cũng chỉ biết được những việc đang xẩy ra ở ngay lúc đó, chứ làm sao biết được những việc chưa xẩy ra, sẽ xẩy ra trong tương lai? Đặt vấn đề tới đây, chúng tôi liên tưởng đến một câu của một khoa học gia mà chúng tôi quên mất tên. Viết rằng: Nếu giờ phút này ta biết được khối lượng, tốc độ và chuyển vận (mass, vitesse et direction) của mọi vật trong vũ trụ, và biết cách giải quyết phương trình của triệu triệu vật đó, thì ta có thể tính toán sự việc sẽ xẩy ra trong giây phút sau, giờ sau, năm sau, v . v . Lẽ tự nhiên, ngay phương trình của ba vật (equation des trois corps) đã khó khăn vô cùng, huống hồ phương trình của triệu triệu vật trong vũ trụ ? Nhưng dù không giải quyết nổi bằng toán học, chúng ta vẫn còn hy vọng giải quyết nó bằng linh tính trực giác trong một lúc xuất thần. Vì thật ra vũ trụ, như Einstein đã nói, là một continuum espace-temps, gồm đủ nơi xa nơi gần, quá khứ, hiện tại và tương lai là một. Cái đáng trách là bộ óc quá thô sơ của chúng ta không nắm được cái continuum đó, chứ không phải là tại bản thể của nó không thể nắm được. Có những bậc thánh hiền như Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Nostradamus, Trạng Trình đã cho chúng ta chìa khóa để vào trong cõi huyền bí đó. Vào được hay không là tùy khả năng của ta, không phải là một bất khả tuyệt đối.

3. Vậy khi bói ta phải:

- thành tâm trịnh trọng đặt câu hỏi. Nếu không ăn chay cầu nguyện trong ba ngày đêm như cổ nhân đã làm, thì ít nhất củng phải tắm rửa sạch sẽ, rồi vào một tĩnh thất, thắp hương trước bàn thờ, rồi tĩnh tọa cầu nguyện xin thần minh trả lời câu hỏi.

- nên đặt câu hỏi rất minh bạch, dứt khoát, có thế trả lời bằng Có hay Không, chứ không nên đặt vấn đề lung tung. Ví dụ nên hỏi: “Tôi có nên nhận việc ở hãng A không?”, chứ không nên hỏi:”Tôi nên làm việc ở hãng nào?”

- nếu câu hỏi có liên quan đến thời gian, thì nên đặt rõ: “Tôi sẽ có việc làm trong một tháng không?”, chứ không nên đặt vấn đề lung tung: “Bao giờ tôi sẽ có việc làm?”

B - Bói Bằng Cỏ Thi.

Không có cỏ thi thì ta có thể tạm dùng 50 ống hút nước ngọt cũng được, đựng vào một cái hộp đựng sạch sẽ. Lối bói này khó khăn nhất. Phải tập trước cho thuần thục rồi mới bói cho khỏi lầm. Có những bước sau đây:

a)

1- Mở hộp đựng cỏ thi, để nó xuống bàn và để quyển kinh Dịch lên trên. Đứng trước quyển sách xá ba vái.

2- Nắm lại đám cỏ thi, rút ra một cái và để nó lại vào trong hộp. Cái cỏ đó không tham gia vào việc bói. ý nghĩa của nó là cái bản thể Một của vũ trụ chưa hiện-tượng-hóa thành vạn thù.

3- Đặt lại 49 cái thành một đống trên bàn trước mặt, và thành khẩn đặt vấn đề, khiến tâm tư mình rung động hòa hợp với những luồng sóng siêu hình của càn khôn vũ trụ .

4- Dùng ngón tay cái bàn tay phải, chia đống đó thành hai đống một cách tự nhiên, không tính toán, không ước lượng, trong khi vẫn chú tâm vào vấn đề đặt ra.

5- Từ đống bên phải, với tay phải, lấy ra một cái, và đặt nó vào giữa khe ngón út và ngón tay đeo nhẫn của bàn tay trái.

6- Bây giờ chú ý vào đống bên trái. Với tay phải, lấy ra từng 4 cái gạt những nhóm đó sang bên trái, cho đến khi còn lại là 4 hay dưới, nghĩa là khi số còn lại là 4, hoặc 3, hoặc 2, hoặc 1.

7- Đặt số còn lại đó vào giữa ngón tay đeo nhẫn và ngón giữa của bàn tay trái.

8- Bây giờ lại chú ý đến đống cỏ bên phải. Lại gạt từng nhóm 4 cái cho tới khi số còn lại là 4 hoặc dưới.

9- Đặt số còn lại đó vào khe giữa ngón tay majeur và ngón tay chỏ của bàn tay trái.

10-Tom góp cả hai đống đã bị gạt bên trái và bên phải thành một đống.

Ta sẽ thấy bàn tay trái đang kẹp một tổng số cỏ là 5 (1+1+3), (1+3+1), (1+2+2) hoặc 9 (1+4+4). Tại sao vậy?

Vì bắt đầu ta có 49 cái, 1 cái đã để vào ngón tay út và ngón tay đeo nhẫn. Còn lại 48 cái, trừ những cái đã bị gạt ra (là 40 hay 44), thì còn lại là 8 hoặc 4. Vậy 1 cộng với 4 là 5, hoặc 1 cộng với 8 là 9. Ta cẩn thận đặt số 5 hoặc số 9 đó ra một chỗ.

b) Và lấy lại đống cỏ bị gạt ra (bước 10 của giai đoạn a) là 40 hoặc 44. Ta lại làm như trên, và bắt đầu bằng bước 3, nghĩa là:

1- Đặt đống 44 hoặc 40 làm một đống ở trước mặt;

2- Dùng tay phải, chia đống đó làm 2 đống một cách tự nhiên;

3- Dùng tay phải, lấy ra ở đống bên phải 1 cái, và đặt nó vào khe giữa ngón tay út và ngón tay đeo nhẫn của vàn tay trái.

4- Đống bên trái, gạt từng nhóm 4 cái một, cho đến khi số còn lại là 4 hoặc ít hơn;

5- Đặt số còn lại đó vào khe giữa ngón tay đeo nhẫn và ngón tay majeur của bàn tay trái.

6- Đống bên phải, gạt từng nhóm bốn cái một, cho đến khi số còn lại là 4 hoặc ít hơn;

7- Đặt số còn lại đó vào khe giữa ngón tay giữa và ngón tay trỏ của bàn tay trái.

8- Tom góp hai đống đã bị gạt bên trái và bên phải làm một.

Bàn tay trái đang kẹp một tổng số cỏ là 4 (1+1+2), (1+2+1), hoặc 8 (1+4+3), (1+3+4). Tại sao? Vì khởi đầu ta có 40 hoặc 44, 1 cái đã để vào khe giữa ngón tay út và ngón tay đeo nhẫn, còn lại 39 hoặc 43. Trừ những cái đã gạt ra là 32 hoặc 36, thì số còn lại phải là 3 hoặc 7. Cộng với 1 thành 4 hoặc 8. Ta lại cẩn thận đặt số 4 hoặc 8 đó ra một chỗ, cạnh số 5 hoặc 9 lần trước.

c) Ta lại làm công việc trên một lần thứ ba nữa. Bất tất nhắc lại các bước đi, chỉ cần biết rằng số còn lại này sẽ là 4 hoặc 8. Tại sao?

Vì lần này số khởi đầu là 40 hoặc 44 trừ đi 4 hoặc 8, còn lại 32, 36, hoặc 40. Một cái để vào giữa ngón tay út và ngón tay đeo nhẫn, còn lại 31, 35 hoặc 39. Bỏ đi các nhóm 4 gạt ra, số còn lại phải là 3 hoặc 7. Cộng với 1 thành 4 hoặc 8.

d) Như vậy ta đã hoàn thành hào Sơ, hào dưới cùng quẻ.

Lần thứ nhất ta được 5 hoặc 9, lần thứ hai và thứ ba được 4 hoặc 8. Bây giờ ta kết hợp các số đó theo mọi cách:

5+4+4 là thái dương 13

9+8+8 là thái âm 25

5+8+8

9+8+4 là thiếu dương 21

9+4+8

5+4+8

5+8+4 là thiếu âm 17

9+4+4

Cách bói các hào nhị, tam, tứ, ngũ, thượng, cũng làm như vậy:

Bắt đầu bằng 49 cái để được số 5 hoặc 9

Bắt đầu bằng 40 hoặc 44 để được số 4 hoặc 8

Bắt đầu bằng 32, 36 hoặc 40 để được 4 hoặc 8.

Và làm xong tất cả 6 lần như thế, thì ta sẽ được 6 hào quẻ.

C - Bói Bằng 3 Đồng Tiền :

Nên dùng 3 đồng trinh cũ, mặt ngửa có chữ, mặt xấp không chữ. Nếu không có tiền trinh cũ, thì đành dùng 3 đồng quarters, và lấy mặt có ghi giá trị của nó làm mặt ngửa.

Cách này giản dị hơn cách bói cỏ thi, theo mấy bước sau đây:

1- Lắc nhẹ ba đồng tiền trong hai bàn tay, rồi vứt cả ba xuống bàn.

2- Ghi mỗi đồng rơi xuống ngửa hay xấp. Ngửa thì tính là 2 (vì 2 là số chẵn, số âm); xấp thì tính là 3 (vì 3 là số lẻ, số dương). Như vậy:

Nếu cả ba đều ngửa, thì 2 x 3 = 6, là số hào thái âm

Nếu cả ba đều xấp, thì 3 x 3 = 9, là số hào thái dương

Nếu hai ngửa một xấp, thì 2 + 2 + 3 = 7, là số hào thiếu dương

Nếu một ngửa hai xấp, thì 2 + 3 + 3 = 8, là số hào thiếu âm

Thế là ta được hào Sơ. Muốn được năm hào trên, ta cũng lần lượt làm như trên.

D - Bói Dùng 6 Que :

Mỗi que dài chừng 8 inch, rộng 1 inch, và dầy 1/8 inch. Hai mặt đều sơn đen, nhưng một mặt có thêm một vạch sơn trắng rộng chừng 1.1/2” ở giữa.

Que nào ngửa đen tuyền là hào dương ___ (vì số mẫu là 1, số lẻ)

Que nào ngửa có vạch trắng là hào âm _ _ (vì số mầu là 2, chẵn)

Cách bói này giản dị nhất, chỉ việc :

1 - Đưa cả 6 que ra đằng sau lưng

2 - Rồi lăn cả 6 lên mặt bàn

3 - Xếp chúng thành quẻ 6 hào, que gần mình nhất là hào Sơ, que kế cận là hào Nhị, v.v. như vậy ta có luôn quẻ bói, nhưng không thể có quẻ biến, và do đó ý nghĩa của quẻ bói chưa được đầy đủ.

E - Biến Quẻ :

Sau khi bói bằng cỏ thi hay bằng 3 đồng tiền, ta có thể đứng trước một trong 3 trường hợp sau đây:

1 - Nếu trong quẻ không có hào chuyển (moving line) tức là không có hào thái dương hoặc thái âm nào, thì chỉ việc tìm xem quẻ đó tên là gì, và ý nghĩa của nó thế nào.

2 - Nếu trong quẻ có một vài hào thái dương hoặc thái âm, thì ngoài quẻ đó ta còn phải biến hào thái dương thành hào thiếu âm, và hào thái âm thành hào thiếu dương, để được một quẻ mới gọi là biến quẻ (new hexagram). Tại sao vậy?

Lý do là hào thiếu âm hoặc thiếu dương chỉ thời kỳ còn sung sức, chưa thay đổi, còn hào thái âm hoặc thái dương thì tới lúc quẻ sắp hết, phải biến thành hào trái ngược của nó.

Lấy một thí dụ ta bói được các hào :

Thượng 5 + 8 + 8 21 ___ thiếu dương

Ngũ 9 + 4 + 4 17 _ _ thiếu âm

Tứ 5 + 4 + 4 13 ___ o thái dương

Tam 9 + 4 + 8 21 ___ thiếu dương

Nhị 9 + 8 + 8 25 _ _ x thái âm

Sơ 5 + 8 + 8 21 __ thiếu dương

thành quẻ mẹ là : Bát Thuần Li, số XXX, và quẻ biến là : Hỏa Thiên Đại Hữu số XIV.

Nghiên cứu ý nghĩa của quẻ Bát Thuần Li là nghiên cứu tình hình hiện tại, những điều có thể xẩy ra cho vấn đề đang hỏi. Còn quẻ Đại Hữu cho biết những điều sẻ xẩy ra trong tương lai, sự biến chuyển tất nhiên của vấn đề đang hỏi. Sự chuyển biến đó đã được ghi trong những hào Nhị và Tứ khiến quẻ Li biến thành quẻ Đại Hữu. Biến quẻ này không cần phân tích từng hào như quẻ mẹ, toàn thể quẻ đó cho ta biết câu giải đáp tối hậu. Và với sự nắm được cả những tình hình tĩnh (statique) và động (dynamique) của vấn đề đang hỏi, câu giải đáp tối hậu sẽ hiện ra trong trực giác của người bói quẻ.

V - Cách giải quẻ bói

A - Về Toàn Thể.

I - Như chúng tôi đã trình bầy trong Lời Nói Đầu, khi đọc các tác phẩm khảo cứu về kinh Dịch, chúng tôi thấy nẩy ra một số thắc mắc không được giải quyết. Những thắc mắc đó phần nhiều thuộc về cách giải quẻ bói.

1) Trước hết, hình như trong một cái nhìn trực giác kỳ diệu, cổ thánh hiền thấy rõ ý nghĩa thâm trầm của mỗi quẻ hướng diễn tiến của nó mà không cần giải thích tại sao.

Cụ Phan nhiều khi đã cắt nghĩa cái nhìn trực giác đó bằng lý luận, nhưng cũng nhiều khi không. Chúng tôi sẽ cố gắng, khi có thể được, bổ khuyết sự thiếu sót của cụ Phan. Đó không phải là một thái độ bất kính mà chỉ là một cố gắng học đòi đi theo con đường sáng mà bậc tiền bối đã vạch ra.

2) Thứ hai, để trình bày cái nhìn trực giác, cổ thánh hiền đặt tên cho các quẻ, như quẻ Tụng số 6 có nghĩa là kiện cáo, quẻ Sư số 7 có nghĩa là đem quân đi đánh giặc, hoặc quẻTỉnh số 48 có nghĩa là cái giếng, quẻ Đỉnh số 50 có nghĩa là cái lư hương hoặc cái nồi nấu cơm, v. v . Và lời giải thích cổ điển về toàn quẻ và từng hào bám sát vào tên quẻ. Do đó có thắc mắc: Giả thử một người đang thất nghiệp muốn bói xem có nên đi xin việc ở hãng X không, mà bói được quẻ Sư, chẳng hoá trật quẻ sao? Vì đi xin việc làm có dính dáng gì đến việc mang quân đi đánh giặc đâu? Bởi vậy chúng tôi nghĩ rằng không nên bám sát vào tên quẻ để đoán quẻ, mà chỉ nên tìm trong mỗi quẻ những sức huyền bí nào đang chi phối vấn đề đang bói. Ví dụ quẻ Địa Thủy Sư có sức chịu đựng, nhẫn nại của KHÔN và sức quả cảm dũng dược của KHẢM, và vì Khảm ở hạ quái nên có khí thế xông lên, hướng dẫn quần chúng KHÔN theo mình làm một công việc gì. Đó là ý chính bàng bạc trong quẻ Sư, và nó có thể áp dụng cho bất cứ vấn đề nào đang bói, dù là đi xin việc làm, hôn nhân, kiện cáo, giáo dục, ngoại giao, v . v . chứ không riêng gì việc đem quân đi đánh giặc.

Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận lời giải của cổ thánh hiền mà chỉ có nghĩa là:

a) Cố gắng giải thích cái nhìn kỳ diệu đó bằng lý luận thông thường theo những nguyên lý kinh Dịch, tức là ảnh hưởng tương quan của các sức mạnh huyền bí (được tượng trưng bằng các quái) đang chi phối quẻ đó.

b) Các sức huyền bí đã được vạch rõ để đi tới một kết luận tương đương với cái nhìn trực giác kỳ diệu của cổ thánh hiền, thì bất cứ quẻ nào bói được trong 64 quẻ cũng có thể dùng để tiên đoán về bất cứ vấn đề nào mình đang bói.

II. Mỗi quẻ 6 hào gồm có hai quẻ 3 hào, một cái ở trên gọi là thượng quái hay ngoại quái, một cái ở dưới gọi là hạ quái hay nội quái. Trước hết, ta xem mỗi quái đó có khuynh hướng âm hoặc dương, được tượng hình bằng vật gì và có ý nghĩa nào về ngũ hành, phương hướng, tính chất, địa vị trong gia đình của người bói quẻ hoặc người đối tượng của quẻ bói, v . v .

a) Riêng về khuynh hướng âm dương, xin nói rõ nghĩa. Nói chung, những quẻ dương là Càn, Chấn, Khảm, Cấn, thường có ý nghĩa là đạo xử thế của người trên, cương quyết:

Càn biểu hiệu cho sức mạnh sáng tác, chỉ huy.

Chấn biểu hiệu cho sức mạnh vùng vẫy.

Khảm biểu hiệu cho những khó khăn sẽ gặp và tinh thần mạo hiểm.

Cấn biểu hiệu cho sức mạnh cần thiết để chống lại trào lưu, hoặc để tự kiềm chế.

Còn những quẻ âm là Đoài, Li, Tốn, Khôn, thường có nghĩa là đạo xử thế của người dưới, nhẫn nhục:

Khôn biểu hiệu cho đức tính thuận tùng, nuôi dưỡng.

Tốn biểu hiệu cho đức tính khiêm nhường.

Li biểu hiệu cho đức tính văn minh, sáng sủa .

Đoài biểu hiệu cho đức tính vui vẻ, hòa duyệt.

Phân biệt tính chất âm dương như vừa trình bầy không có nghĩa là dương tốt, âm xấu. Ví dụ tính cương quyết là tốt ở người cha, ở người đại tướng, nhưng lại xấu ở người vợ, người lính. Mỗi vật, mỗi người ở trong khoảng trời đất đều có cái đạo tự nhiên của nó. Hòn đá cầm trong tay mà buông ra là rơi xuống đất : rơi xuống là đạo của hòn đá. Ngọn lửa thì phải xông lên trên: lên trên là đạo của lửa. Con hổ phải ăn thịt dã thú để sống: giết hại dã thú là đạo của con hổ. Con trâu ăn cỏ để sống: ăn cỏ là đạo của con trâu. Ta không thể nói là cái đạo của ngọn lửa tốt hơn cái đạo của hòn đá, hoặc cái đạo của con trâu tốt hơn cái đạo của con hổ.

b) Mỗi quẻ ba hào được tượng hình bằng một vật: Càn là trời, Khôn là đất, Đoài là nước im lìm ở các hồ ao, Khảm là nước chẩy cuồn cuộn ở các sông ngòi, v . v . Từ những hình tượng đó ta có thể rút ra những ý nghĩa khác nhau mà nó bao hàm. Ví dụ Càn chỉ phương Nam vì mặt trời ở phương nam lúc giữa trưa; Càn chỉ sức mạnh chỉ huy vì trời ở trên cao, bao trùm muôn vật; Càn chỉ người cha vì người cha là chủ gia đình, v . v .

Giải quẻ có hai lối:

1) Theo tượng quẻ

2) Theo đức quẻ

III - Sau khi đã nhận định rõ tính chất của hai quái thượng hạ, ta mới tìm hiểu ý nghĩa của quẻ. Và tùy quẻ ta có thể áp dụng một trong những nguyên lý sau đây:

1) Nếu hai quái thượng hạ trùng nhau, trên dưới như nhau, thì là 8 quẻ Bát Thuần Càn, Bát Thuần Khôn, Bát Thuần Li, v . v . Trường hợp này rất giản dị, chỉ là tăng cường tính chất chung của hai quái kết hợp. Ví dụ Càn đã là cương cường, thì Bát Thuần Càn là cương cường tột độ; Khảm là nguy hiểm, thì Bát Thuần Khảm là nguy hiểm cực độ, v . v .

2) Một trường hợp cũng dễ nhận xét là ở dưới có toàn hào dương, còn ở trên thì toàn hào âm, như vậy là chính đạo xua lên đuổi tà đạo: tốt. Ví dụ quẻ Phục số 24 ở dưới có một hào dương, quẻ Lâm số 19 có hai dương, quẻ Thái số 11 có 3 dương, quẻ Đại Tráng số 34 có 4 dương, quẻ Quải số 43 có 5 dương, xua đuổi những hào âm ở trên.

Và trái lại, nếu ở dưới toàn hào âm, còn ở trên toàn hào dương, tức là tà đạo xông lên đuổi chính đạo: xấu. Cũng có 5 quẻ thuộc trường hợp này.

3) Nếu trong một quẻ mà chỉ có một hào dương còn các hào khác đều âm, hoặc ngược lại chỉ có một hào âm còn những hào khác đều dương, thì hào duy nhất đó là chủ quẻ, và ảnh hưởng lớn đến ý nghĩa của quẻ. Tốt hay xấu sẽ tùy hào duy nhất đó chính hay bất chính, đắc trung hay bất trung. Đó là trường hợp của những quẻ 7, 8, 9, 10, 13, 14, 15, 16, 23, 24, 43, 44. Nhưng bốn quẻ Bác số 23, Phục số 24, Quải số 43 và Cấn số 44 đã tùy thuộc nguyên lý 2 rồi, chỉ còn 8 quẻ tùy thuộc nguyên lý 3. Vậy trừ 8+10+8 là 26 quẻ thuộc ba nguyên lý 1, 2, 3 dễ nhận xét ý nghĩa, còn lại 38 quẻ khó nhận xét hơn, nhưng ta có thể tìm hiểu bằng cách nghiên cứu sự tương quan giữa hạ quái và thượng quái như thế nào. Đại để:

4) Hạ quái là cái đương tiến, sắp được thành trụ, còn thượng quái là cái đang lui, sắp bị tiêu vong. Nguyên lý 2 trình bày ở trên chỉ là một trường hợp đặc biệt của nguyên lý chung này. Ví dụ quẻ Sơn Hỏa Bí số 22 và quẻ Hỏa Sơn Lữ số 56 đều hợp bởi hai quái Cấn và Li, nhưng ở quẻ Bí thì Li ở dưới, và ở quẻ Lữ thì Cấn phải ở dưới. Nghĩa là ở quẻ Bí cái sẽ thắng lợi là Li, là ánh sáng, đối phó và đuổi lui sức mạnh kìm hãm của Cấn, khiến cho xã hội được một chút tô điểm văn minh nghệ thuật. Trái lại ở quẻ Lữ cái sẽ thắng là Cấn, là sức mạnh kìm hãm, đàn áp mọi nghệ thuật văn minh, khiến cho những bậc trí thức phải bỏ nhà ra đi, Lữ.

5) Khi quẻ tượng trưng cho một vận hội nào đó, thì tình trạng của vận hội nào đó tiến từ dưới lên trên, từ hạ quái đến thượng quái. Nguyên lý này hình như trùng với nguyên lý 4, nhưng thực ra có khác. Ở đây không phải là sức mạnh hạ quái thắng sức mạnh của thượng quái, mà là tình trạng của quẻ (do cả hai quái tạo ra) tiến theo thời gian từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết liễu. Ví dụ quẻ Thủy Hỏa Ký Tế số 63 là thời kỳ đã thành công, quẻ Hỏa Thủy Vị Tế số 64 là thời kỳ chưa thành công, đều hợp bởi hai quái Khảm và Li. Ở quẻ 63, tình trạng tốt đẹp thành công lúc ban đầu ở hạ quái, và dần dần sẽ suy sụp khi kết liễu ở thượng quái. Trái lại tình trạng xấu không thành công lúc ban đầu sẽ dần dần sáng sủa lúc kết liễu. Phải giải thích như vậy, chứ ta không thể nói rằng ở quẻ 63 lửa thắng nước, và ở quẻ 64 nước thắng lửa.

6) Cũng có khi ta phải xem xét hai quái tượng trưng cho những đức tính nào, chúng có thể hòa hợp với nhau được không, nếu được thì tốt, trái lại là xấu. Ví dụ:

- Quẻ Thủy Lôi Truân số 3, tượng hình bằng ngoại Khảm (hiểm), nội Chấn (động), có thể giải thích rằng quẻ này ứng vào một tình thế hiểm nguy ở ngoài, lại bị rối loạn ở trong quấy phá.

- Quẻ Thiên Trạch Lý số 10, trên Càn dương dưới Đoài âm, cương cường ở trên, vui thuận dưới, như vậy là hợp với lẽ tự nhiên, hợp với Lễ: tốt.

- Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu số 14, trên Li (lửa) dưới Càn (trời), có nghĩa là lửa trên trời, tượng trưng cho một ánh sáng, một đức độ chiếu xa khắp mọi nơi, mọi vật.

7) Cuối cùng, ta lại còn nhận thấy rằng một quẻ có ý nghĩa cho là xấu, nhưng nếu nó được hai hào đắc trung là Nhị, Ngũ chính ứng, nghĩa là Nhị âm Ngũ dương, thì quẻ đó không hẳn là xấu đâu, còn có chỗ khả thủ. Ví dụ quẻ Thủy Sơn Kiển số 39 rõ ràng là điềm xấu, nhưng vì có hào Lục Nhị và Cửu Ngũ chính ứng, nên được Soán từ phê: “Lợi kiến đại nhân, trinh, cát”

B - Về Các Hào

1. Các hào nói chung là cái gì?

a) Một là chỉ tình trạng của vấn đề bói diễn tiến với thời gian như thế nào, từ lúc khởi thủy, trưởng thành, rồi đến độ cùng cực tàn tạ. Vì cổ thánh hiền đã tượng hình mỗi quẻ bằng một vật như cái giếng, cái đỉnh, hoặc một vấn đề nào đó như kiện tụng, chiến tranh,v . v ., nên lời giải thích các hào cũng mô tả quá trình diễn tiến của vật đó hoặc của vấn đề đó một cách sát nút.

Chúng tôi cũng nhận định rằng các hào, từ Sơ đến Thượng, chi-tiết-hóa quá trình diễn tiến của vấn đề đang bói, nhưng chúng tôi không quá lệ thuộc vào vật hay vấn đề tượng trưng cho quẻ bói. Nói một cách khác, chúng tôi sẽ mở rộng quá trình diễn tiến không nhất luật cho mọi vấn đề, hôn nhân cũng như giáo dục, đoàn kết cũng như chiến tranh. Mỗi quẻ bị chi phối bởi những sức mạnh siêu hình riêng biệt cho nó, hoạt động theo một kiểu đặc thù chứ không nhất luật cho tất cả các quẻ. Bởi vậy, với quẻ này sự diễn tiến có thể sẽ đều đặn, không chút vấp váp; trái lại với quẻ kia, nó có thể sẽ qua nhiều bước nhiêu khê, khi tiến khi lùi.

b) Quẻ cũng có thể có nhiều đáp số khác nhau tùy theo người bói quẻ, là một người ở địa vị thấp kém, tài nhỏ, hay là ở địa vị cao sang, có tài lớn, quyền hành rộng. Và đây theo cổ nhân:

- hào Sơ chỉ người dân thường, tiểu nhân;

- hào Nhị chỉ bậc lại, tổng lý;

- hào Tam chỉ bậc quan, hàng phủ huyện;

- hào Tứ chỉ bậc đại thần gần cận vua;

- hào Ngũ chỉ vị chí tôn, hoàng đế;

- hào Thượng chỉ bậc quân tử hoặc quyền thế lớn.

Vậy người bói phải thành thực nhận định việc bói đang ở giai đoạn nào ( tức là hào Sơ, hoặc các hào giữa, hoặc các hào Thượng). Và cũng phải thành thực nhận định mình là hạng người nào, nhu hòa thì là hào âm, cương cường thì là hào dương, có địa vị thấp thì là ở các hào dưới, có địa vị cao là ở hào trên. Có sách còn máy móc giải thích phân vân đó mà nói rằng hào biến chính là hào thích ứng với người bói quẻ.

2) Mỗi hào phải giải thích theo những nguyên lý nào?

a) Nói về bản chất thì một hào có thể là dương ( còn gọi là Cửu), hoặc là âm (còn gọi là Lục). Dương thì cứng, sáng, Âm thì mềm, tối, v . v .

b) Nói về vị trí thì những hào Sơ, Tam, Ngũ hợp với dương, còn những hào Nhị, Tứ, Thượng thì hợp với âm. Như vậy một hào bản chất là dương có khi cư dương vị (Sơ, Tam, Ngũ), tức là đắc chính. Trái lại, nếu nó ở vị trí âm (Nhị, Tứ, Thượng), tức là bất chính. Cũng vậy, một hào bản chất âm mà cư dương vị là bất chính, và cư âm vị là đắc chính.

Đắc chính là tính nết hoặc tài đức xứng đáng với địa vị của mình trong xã hội, hoặc thích hợp với hoàn cảnh của quẻ đó. Bất chính thì trái lại. Nhưng không phải bao giờ đắc chính cũng là tốt, và bất chính cũng là xấu. Có thể ở một thời kỳ nào đó, trùng dương (dương hào cư dương vị) lại là quá cương, và trùng âm (âm hào cư âm vị) lại là quá nhu nhược, đều làm hỏng việc. Trái lại, dương hào cư âm vị hoặc âm hào cư dương vị lại có khi tốt trong vài hoàn cảnh đòi hỏi cương nhu hỗ trợ nhau, bổ khuyết cho nhau.

c) Về vị trí còn phải nói thêm rằng hào Nhị ở giữa hạ quái và hào Ngũ ở giữa thượng quái đều là đắc trung, giữ địa vị tôn quí, còn những hào Sơ, Tam Tứ, Thượng đều là bất trung. Chữ trung ở đây không có nghĩa là trung thành (fidèle) như trong danh từ trung thần, mà có nghĩa là trung dung (juste milieu), không thái quá cũng không bất cập. Đắc trung mà bất chính còn tốt hơn là đắc chính mà bất trung, vì một người biết xử sự trung dung thường biết tự kiềm chế mình, không quá cương cường (nếu cư Ngũ) hoặc không quá nhu nhược (nếu cư nhị).

d) Nói về sự tương ứng giữa các hào, thì những cập Sơ-Tứ, Nhị-Ngũ, Tam-Thượng, thường có liên hệ với nhau. Nhưng phải một âm một dương thì mới có sự tương ứng (như điện âm điện dương thu hút nhau), nếu cả hai đều âm hoặc đều dương thì không có sự tương ứng. Ở đây ta lại phải cảm phục kinh Dịch đã khám phá ra sự tương ứng đó, trái với thường tình cho rằng ‘đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu’. Ví dụ trong một cuộc hợp tấu âm nhạc, phải có tiếng trầm tiếng bổng xen lẫn vào nhau thì mới hay. Lại ví dụ nữa, hai anh hùng mới biết trọng nhau, nhưng một người phải ở địa vị quân vương, người kia phải ở địa vị thần hạ như Lưu Bị và Quan Công thì mới hợp tác với nhau được. Còn nếu cả hai đều ở địa vị quân vương như Tào Tháo và Lưu Bị, thì phải đi đến chỗ đổ vỡ, không thể hợp tác với nhau lâu dài được.

Ngoài ra, hai hào trong mỗi quái thượng hoặc hạ, tuy không chính ứng với nhau nhưng vì gần nhau nên cũng có khi ảnh hưởng lẫn nhau. Tức là hào Sơ-Nhị, Tam-tứ, Ngũ-Thượng.

3) Chính vì ý nghĩa các hào thay đổi từ hào Sơ đến hàoThượng, nghĩa là tùy theo giai đoạn diễn tiến của vấn đề đang bói hoặc tài đức của người bói quẻ, mà chúng tôi nghĩ rằng cái quan trọng của kinh Dịch là ở lời giải thích các hào : Trước bất cứ vấn đề nào (giáo dục, hôn nhân, kinh tế, ngoại giao, chiến tranh, v . v .) và trong bất cứ hoàn cảnh nào (yếu kém hay hùng cường, chống đối hay hoà thuận, thái bình hay loạn lạc, v . v .), kinh dịch luôn luôn dạy ta học xử thế thích hợp với hoàn cảnh đó, để đối phó với nó.

C - Ta Có Nên Tuân Theo Sự Chỉ Dẫn Của Quẻ Bói Không ?

Nếu khi bói mà thiếu trang nghiêm thành khẩn, thì lẽ tự nhiên sẽ lãng quẻ. Dưới đây giả thử rằng quẻ bói đã cử hành rất trang nghiêm thành khẩn. Ta có thể đứng trước một trong ba trường hợp:

1) Câu trả lời của quẻ hình như không ăn nhập gì với câu hỏi. Chớ vội cho là lãng quẻ, vì ý nghĩa của quẻ thường xâu xa, kín đáo, nói với tiềm thức hơn là với trí thức của ta, nên ta chưa hiểu. Nhưng rồi một ngày nào đó, ta sẽ bừng hiểu (cũng như các câu sấm).

2) Câu trả lời xấu, bảo ta rằng nếu ta tiến hành việc dự định thì sẽ thất bại. Nhưng vì có nhiều lý do thuận tiện, ta cho rằng quẻ đã bảo sai, cứ làm thế nào cũng thành công. Tuy nhiên, cũng nên cẩn thận, vì tương lai có nhiều bất ngờ, cái mà ta tưởng ngày nay là thuận tiện, có thể ngày mai sẽ bất lợi. Sự đó, quẻ bói trông thấy mà ta không trông thấy. Ví dụ ta hỏi: có nên hợp tác với ông X không trong một việc làm ăn có lời lớn, như đấu thầu, xuất nhập cảng. Quẻ trả lời: không nên. Nhưng vì ta thấy ông X đang làm ăn thịnh vượng, ta cứ hợp tác. Nhưng chẳng bao lâu ông làm việc phi pháp, rồi ta cũng bị liên can vào.

3) Câu trả lời tốt. Ta cứ vững tin mà tiến hành công việc dự định.

VI – Triết lý Kinh Dịch

Vấn đề bói Dịch, ta có thể tin hay không tin vì nó rất huyền bí, phải là người có căn cơ đặc biệt mới dễ cảm thông với các luồng điện siêu hình của vũ trụ. Nhưng phần triết lý của kinh Dịch thì khác, ai cũng có thể lĩnh hội được nếu chịu khó suy nghĩ. Đó có lẽ là quan niệm của cụ Sào Nam nên trong cuốn Chu Dịch của cụ không hề đả động đến cách bói mà chỉ trình bầy triết lý của kinh Dịch trong quẻ. (Và có lẽ, theo cụ Phan, ta chỉ nên nghiên cứu kinh Dịch, rồi có vấn đề nào nghi ngờ, khó quyết định, thì thay vì bói toán, chọn trong số 64 quẻ, quẻ nào liên quan đến vấn đề hiện tại của mình. Rồi tự xét mình và cảnh ngộ của mình trong vấn đề đang hỏi, đáng được tượng trưng bằng hào nào, từ Sơ đến Thượng trong quẻ đó. Việc lựa chọn này còn khó khăn hơn là việc bói toán máy móc, vì nó đòi hỏi ở ta một chính tâm thành ý tuyệt đối, không tự tôn mà cũng không hạ, rồi đọc lời giải trong quẻ đó).

Trở lại triết lý kinh Dịch, nó không phải là một triết lý không tưởng mà rất thiết thực, căn cứ vào sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên và nhân sự. Nó gồm mấy nhận xét sau đây :

A - Vấn Đề Hiện Tượng Thiên Nhiên.

1) Mọi sự mọi vật đều biến chuyền, không có cái nào vẫn y nhiên mãi. Như ngày đêm thay đổi, xuân hạ thu đông, trăng tròn rồi lại khuyết, triều đại thịnh suy, đời người từ thiếu niên đến già lão, v . v . Điều nhận xét này, phàm nhân chúng ta cũng có.

2) Nhưng sự biến chuyển diễn ra vì sao (why), thì phàm nhân chúng ta không biết. Đó là chỗ huyền diệu của kinh Dịch. Đã từ 5000 năm trước, cổ thánh hiền đã biết rằng trong bản thể của vũ trụ, gọi là Thái Cực, có hai nguyên lý vừa đối chọi nhau, vừa bổ khuyết cho nhau, gọi là Âm Dương. Và khoa học ngày nay đã chứng minh rằng tất cả vũ trụ chỉ là những kết quả giao dịch của hai loại điện, một âm và một dương, của một bản thể chung là energy-matter.

3) Vẫn chưa hết. Sự giao dịch giữa âm và dương diễn ra thế nào (how), có theo một quá trình (processus) hữu lý nào không, hay là vô trật tự ? Khoa học ngày nay mới chỉ thấy vài khía cạnh, như luật Mendelieev đã nói ở trên, và luật Mendel chi phối sự di truyền (heredity), nhưng chưa đạt thành một hệ thống chung cho hiện tượng vật lý hóa, tâm lý, sinh lý, v . v . Kinh Dịnh đã dám đưa ra một quá trình diễn tiến cho khắp mọi biến chuyển. Có thể cái việc hệ-thống-hóa đó quá táo bạo, không đủ mềm dẻo để ăn khớp với mọi biến chuyển, mỗi cái có những cái đặc điểm của nó, không cái nào giống cái nào. Dù sao thì ta cũng phải công nhận rằng, sự cố gắng hệ-thống-hóa đó, với 64 quẻ và 384 hào, đã đem lại một chút rationality, một chút sáng sủa trong cái hỗn độn mịt mờ của muôn sự muôn vật. Các ngành khoa học cũng vậy, đã đi từ cái lộn xộn chỉ tả cảnh (science descriptive) mà chưa biết tiên đoán của thời Trung cổ, đến ngày nay tiến dần dần đến các định luật toán học rất xác thực, có thể tiên đoán cho một tình trạng nào đó, cái gì sẽ xẩy ra. Thiên văn học, Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, và cả đến Tâm lý học, Xã hội học đều tiến như thế, nhưng vẫn chưa đi đến một quá trình hệ-thống-hoá duy nhất. Phải chăng thuyết Unified Field (Thống nhất trường) của Einstein có tham vọng đó, nhưng chưa hoàn thành mỹ mãn và chưa chứng minh được?

Trở lại cái quá trình hệ-thống-hóa của kinh Dịch, nó được trình bày trong Tự quái ở mỗi đầu quẻ, và chứa ngầm 2 ý kiến sau đây:

a) Mọi biến chuyển đều theo một chu kỳ, dài ngắn khác nhau, được thể hiện bằng số ngày hoặc tháng, năm, thế kỷ, thời đại, v . v . Vũ trụ tiến hoá không theo đường thẳng (linéaire) mà theo đường trôn ốc (spirale). Ví dụ chu kỳ glaciation-réchauffement của địa cầu, không có lạnh lẽo mãi mãi, cũng không có nóng mãi mãi, chu kỳ glaciation-réchauffement này xong thì lại bắt đầu một chu kỳ glaciation-rechauffement mới. Các sinh vật cũng vậy, có thực vật, động vật chỉ sinh trưởng trong một vài ngày, trái lại có thực vật, động vật khác có thể sinh trưởng tới một vài trăm năm.

b) Trong mỗi chu kỳ, cái gì đi đến tột độ phát triển của nó thì sẽ bắt đầu suy vong, và cái gì đến tột độ suy vong của nó thì sẽ bắt đầu phát triển. Ví dụ ban ngày từ đông chí sang hạ chí ngày càng dài, đến tiết hạ chí thì ngày sẽ bắt đầu ngắn trở lại. Rồi từ hạ sang đông, càng ngắn đến tiết đông thì sẽ bắt đầu dài trở lại. Lại ví dụ thảo mộc từ trẻ đến già thì phải chết, nhưng chết rồi thì lại tái sinh nhờ hoa quả.

B - Về Các Hiện Tượng Nhân Sự.

Cái giá trị của kinh Dịch là đem áp dụng cái thiên đạo đó vào nhân đạo, gồm trong mấy ý kiến sau đây:

1) Tin vào lý nhân quả: trị, loạn, thịnh, suy, cát, hung, cái gì cũng có nguyên nhân của nó, không phải là chuyện vô cớ ngẫu nhiên.

2) Tin vào lý biến dịch, vì trong âm có dương và trong dương có âm. Thời trị không phải trị mãi đâu, ngay trong lúc đang thịnh trị đã ngầm chứa những mầm loạn có thể nẩy nở để phá vỡ nó. Và trong lúc bĩ cực chớ nên bi quan tuyệt vọng, phải nghĩ đến và giúp đỡ những mầm trị sẽ nẩy nở để phục hưng lại thời trị.

3) Nên xử sự theo thiên đạo, nghĩa là tùy thời. Kinh Dịch không bảo ta một cách cứng nhắc như Nho Giáo rằng: “thà làm cây thông cứng còn hơn làm cây gậy cong, thà làm viên ngọc vỡ còn hơn làm viên ngọc lành”. Thế cho nên, khi nên chết thì phải chết, không chịu nhục. Ví dụ Trần bình Trọng chửi vào mặt quân Nguyên mà chết, là bậc quân tử xử sự đúng với tinh thần Nho Giáo. Nhưng người quân tử trong kinh Dịch nên tiến thì tiến, nên lui thì lui để bảo toàn, không phải thân mệnh riêng của mình mà vì việc lớn của quốc gia. Quản Trọng, Án Anh không chịu chết với chủ cũ, mà để dành tấm thân hữu ích sẽ đổi nguy thành an cho nước Tề, chính là những bậc quân tử hiểu thấu kinh Dịch.

Như vậy, ta chớ nên nghĩ lầm rằng tinh thần kinh Dịch trái ngược với tinh thần Nho giáo. Kinh Dịch không khuyên người quân tử luôn luôn tìm sống lánh chết, mà chỉ khuyên người quân tử coi vấn đề sinh tử một cách rộng rãi hơn quan niệm của Nho giáo thôi, căn cứ vào lợi ích quốc gia hơn là vào sự vinh nhục bản thân. Sống chết có khi nặng bằng núi Thái Sơn, cũng có khi nhẹ bằng chiếc lông chim, câu đó mới tả rõ quan niệm của kinh Dịch.

Thêm nữa, tùy thời tiến lui không phải chỉ giới hạn trong vấn đề nên chết hay nên sống. Nó được áp dụng trong mọi công việc ở đời: ẩm thực, hôn nhân, giáo dục, thưởng phạt, thương mại, kỹ nghệ, hợp tác hay chống đối với một chính quyền, ngoại giao, chiến tranh, v . v . Bậc gia trưởng tề gia, chính khách trị quốc, giáo sư dậy học trò, thẩm phán xử kiện, thương gia kinh doanh, ngoại trưởng đi thương thuyết, tướng lãnh cầm quân ra trận nếu biết thấm nhuần triết lý kinh Dịch, thì sẽ tránh được những lỗi lầm đáng tiếc.

C - Biến Đổi Tuần Tự Hay Đột Ngột ?

Ta có thể ngờ rằng kinh Dịch chấp nhận thuyết tiến hoá chậm chạp và tuần tự (évolutionnisme) của Darwin, mà không chấp nhận thuyết Biến hóa đột ngột (mutationnisme hay Catastrophisme) của một số nhà sinh vật học và thiên văn học tân tiến (De Vries, Velikovsky).

1) Xin lấy một thí dụ : Trong quẻ Bác số 23, khí âm dần dần lấn áp khí dương, có tới 5 hào âm ở dưới xua đuổi 1 hào dương ở trên còn sót lại. Rồi tiếp đến quẻ Phục số 24, khí dương sau khi bị tiêu diệt lại xuất hiện, 1 hào dương xuất hiện ở dưới có khí thế tiến lên chống với 5 hào âm ở trên. Từ quẻ Bác sang quẻ Phục, ta thấy có một quá trình tiến hóa từ từ.

2) Tuy nhiên, ta cũng thấy trong kinh Dịch có rất nhiều quẻ hoàn toàn trái ngược nhau và đi liền với nhau. Ví dụ quẻ Thái số 11 và quẻ Bĩ số 12. Trong hai quẻ đó, đều có 3 hào âm và 3 hào dương, nhưng ở Thái thì 3 dương ở dưới đang tiến lên, còn Bĩ thì trái ngược. Ta không thể nói rằng quá trình tiến hóa từ quẻ Thái sang quẻ Bĩ là một tiến hóa từ từ được, vì sự đổi 3 hào dương sang chỗ 3 hào âm, ngược lại, đòi hỏi nhiều bước đi chứ không phải một bước là đủ như ở trường hợp quẻ Bác tiến sang quẻ Phục. Ở đây, ta thấy thế cờ lật ngược một cách đột ngột, bất ngờ, tức khắc chứ không từ từ. Rõ rệt là ở đây tư tưởng Dịch ngả theo thuyết Mutationisme của De Vries hay Catatrophisme của Velikosvsky, chứ không theo thuyết Evolutionnisme của Darwin.

Một lần nữa, ta thấy triết lý Dịch nói riêng và triết lý Á Đông nói chung, luôn luôn uyển chuyển chứ không cứng nhắc như triết lý Tây phương. Đạo Phật há chẳng nói: ‘Phi hữu, phi vô, diệc hữu diệc vô’ là gì? Và các khoa học gia Tây Phương, ngày nay mới nhận thấy chân lý đó. Ánh sáng vừa là luồng sóng từ điện vừa là quang từ (De Broglie), năng lượng và vật chất cũng là một (Einstein).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn